Dự trữ ngoại tệ là gì ???

Dự trữ ngoại hối nhà nước, thường gọi tắt là dự trữ ngoại hối hoặc dự trữ ngoại tệ là lượng ngoại tệngân hàng trung ương hoặc cơ quan hữu trách tiền tệ của một quốc gia hay lãnh thổ nắm giữ. Đây là một loại tài sản của Nhà nước được cất giữ dưới dạng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh như: Dollar Mỹ, Euro, Yên Nhật, v.v…) nhằm mục đích thanh toán quốc tế hoặc hỗ trợ giá trị đồng tiền quốc gia.

Hình thức dự trữ

Ngoại hối có thể được dự trữ dưới hình thức:

Tiêu chí đánh giá quy mô dự trữ

Có ba tiêu chí chính:

[sửa] Tỷ lệ giữa dự trữ ngoại hối và giá trị một tuần nhập khẩu trong năm tiếp theo

Nói cách khác, quy mô dự trữ ngoại hối được tính bằng số tuần nhập khẩu. Tiêu chí này cho thấy mức độ hỗ trợ thanh toán quốc tế của dự trữ ngoại hối. Theo đánh giá của IMF, dự trữ ngoại hối có quy mô tương đương 12 đến 14 tuần nhập khẩu thì quốc gia sẽ được coi là đủ dự trữ ngoại hối.

[sửa] Tỷ lệ giữa dự trữ ngoại hối và nợ ngắn hạn nước ngoài

Tiêu chí này cho thấy khả năng đối phó của quốc gia khi có hiện tượng tấn công ngoại tệ hoặc rút tiền ra nước ngoài.

[sửa] Tỷ lệ giữa dự trữ ngoại hối và mức cung tiền rộng

Tiêu chí này cho thấy khả năng can thiệp tỷ giá hối đoái của ngân hàng trung ương. Tỷ lệ từ 10% đến 20% được coi là đủ dự trữ ngoại hối.

[sửa] Quy mô dự trữ ngoại hối của một số nước dẫn đầu

Mức dự trữ ngoại hối theo quốc gia [1]

Mức dự trữ ngoại hối của một số quốc gia/lãnh thổ có dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới năm 2006

Quốc gia/lãnh thổ                                    Tương đương tỷ USD (tính đến cuối tháng)

Cộng hòa 
nhân dân Trung Hoa Cộng hòa nhân dân Trung Hoa              1066 (tháng 12)

Nhật Bản                                      895 (tháng 12)

Nga                                                 303 (19/1/2007)

Trung Hoa dân quốc (Đài Loan)                  266 (tháng 12)

Hàn Quốc                                    239 (tháng 12)

Flag of India.svg Ấn Độ                                               177 (12/1/2007)

Singapore                                        137 (tháng 12)

Hồng Kông                                 133 (tháng 12)

Flag of Germany.svg Đức                                          113 (tháng 11)

Các biện pháp tăng cường dự trữ ngoại hối

 

 

Dự trữ ngoại tệ của Việt Nam bao nhiêu là vừa?

TCKT cập nhật: 25/09/2006

Có ý kiến cho rằng trong lộ trình tự do hoá thị trường vốn, thị trường tài chính thì nguồn dự trữ ngoại tệ càng nhiều càng tốt.

Mức dự trữ ngoại tệ của Việt Nam hiện nay là bao nhiêu, bao nhiêu để cân đối vĩ mô, để quản lý và ứng xử tốt với biến động thị trường?

Trưởng đại diện Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) tại Việt Nam Il Houng Lee dự đoán, tổng dự trữ ngoại tệ của Việt Nam hiện đạt giá trị tương đương 12 tuần nhập khẩu.

“Tôi cho rằng, lượng dự trữ ngoại tệ đủ để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu trong vòng 12 tuần có thể coi là vừa đủ, bởi Việt Nam chưa có một thị trường tài chính tự do hoàn toàn như các nước phát triển”, ông Il Houng Lee nhấn mạnh.

Tuy nhiên, khi thị trường tài chính của Việt Nam thực sự được tự do hoá và dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII, FPI- Foreign Portfolio Investment) đổ vào Việt Nam trở thành làn sóng như nhiều chuyên gia tài chính dự báo thì Việt Nam cần phải có mức dự trữ ngoại tệ cao hơn nữa.

Theo bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ, Phó giám đốc Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước, về điều hành chính sách tiền tệ vĩ mô, việc tăng dự trữ ngoại tệ phải đồng nghĩa với cán cân thương mại bội thu mới bảo đảm sự chắc chắn cho an ninh tài chính quốc gia.

“Nếu tăng dự trữ ngoại tệ bằng nguồn vay nước ngoài là chính, cộng với việc quản lý nợ nước ngoài không tốt sẽ dẫn đến hậu quả khó lường”, bà Thuỷ nói.

Theo bà Thuỷ, khi dự trữ ngoại tệ tăng, đồng thời phải tăng khối lượng tiền đồng phát hành ra thị trường, nếu quản lý không tốt sẽ gây ra lạm phát, trong khi việc kìm chế lạm phát là một trong những nhiệm vụ luôn luôn được Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước đặt lên hàng đầu trong điều hành kinh tế vĩ mô.

Ông Nguyễn Đại Lai, Phó vụ trưởng Vụ Chiến lược Phát triển ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước) cũng đồng ý với quan điểm của bà Thuỷ. Theo ông, dòng vốn FPI là chứng khoán nợ, huy động từ nước ngoài, dù ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn thì đồng tiền mua chứng khoán đều là ngoại tệ và được sử dụng để mua máy móc, thiết bị, nguyên, nhiên liệu đầu vào cho sản xuất nên chỉ liên quan mật thiết đến tỷ giá chứ liên quan rất ít tới dự trữ ngoại tệ.

“Với Việt Nam, dự trữ ngoại tệ tương đương 12 tuần nhập khẩu là vừa đủ. dự trữ ngoại tệ không phải là vấn đề quan trọng trong việc thu hút FPI”, ông Lai nhận định, điều quan trọng nhất trong việc thu hút FPI là tạo lòng tin cho nhà đầu tư nước ngoài sẵn sàng mua công cụ nợ do doanh nghiệp trong nước phát hành.

Muốn vay được vốn thì ngoài việc doanh nghiệp phải minh bạch hoạt động sản xuất – kinh doanh, tạo lòng tin đối với nhà đầu tư trong việc sử dụng vốn vay thì cần phải có thị trường chứng khoán phát triển, bởi thị trường chứng khoán chính là đầu mối để người cần vốn và người muốn đầu tư “gặp nhau” và thực hiện luân chuyển vốn.

“Một khi luồng FPI chảy mạnh vào Việt Nam, nếu nguồn dự trữ ngoại tệ không đủ lớn, thì việc tăng thu hút FPI sẽ gây ra hậu quả nhiều hơn tác động tích cực đối với nền kinh tế”, TS Nguyễn Minh Phong (Viện Nghiên cứu kinh tế – xã hội Hà Nội) nhận định.

Ông Phong cho rằng trong lộ trình tự do hoá thị trường vốn, thị trường tài chính thì nguồn dự trữ ngoại tệ càng nhiều càng tốt, nhưng phải kèm điều kiện nới lỏng dần chính sách tỷ giá mới giảm thiểu tác động bất lợi của nguồn vốn FPI đối với nền kinh tế.

“Trong điều kiện thị trường vốn, thị trường tài chính chưa thực sự phát triển, tôi cho rằng, nguồn dự trữ ngoại tệ tương đương 12 tuần nhập khẩu là đủ với Việt Nam trong thời điểm hiện nay, bởi nguồn dự trữ này vừa đủ để Việt Nam thanh toán 100% khoản nợ ngắn hạn”, ông Il Houng Lee, nhấn mạnh. Tuy nhiên, ông cũng khuyến cáo, Việt Nam nên tăng nhanh mức dự trữ ngoại tệ.

Theo một chuyên gia của Viện Tài chính Hàn Quốc, Việt Nam cần phải nghiên cứu xem khả năng có thể quản lý khoản dự trữ ngoại tệ bao nhiêu là “vừa sức” và trong từng thời điểm phải cân nhắc, tính toán xem nên duy trì mức dự trữ ngoại tệ bao nhiêu là hợp lý với điều kiện, hoàn cảnh, bởi mức dự trữ liên quan đến thị trường tài chính, bao gồm cả thị trường nợ và các điều kiện kinh tế vĩ mô liên quan khác.

“Mức dự trữ ngoại tệ bao nhiêu luôn là vấn đề được các cơ quan quản lý Hàn Quốc bàn thảo. Nếu dự trữ quá lớn cũng là một trong những yếu tố dẫn đến lạm phát, mặt khác, chi phí cho việc dự trữ khối lượng tiền quá lớn cũng rất tốn kém. Ngược lại, nếu nguồn dự trữ không bảo đảm khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng rất nguy hiểm, vì dự trữ ngoại tệ là sự phương tiện cuối cùng của nền kinh tế quốc gia, nhằm mục đích phòng vệ khi an ninh tài chính bị đe doạ, giảm thiểu nguy cơ khủng hoảng kinh tế có thể xảy ra. Để xử lý bài toán này, các quốc gia đang phát triển thường sử dụng tiền dự trữ đầu tư vào trái phiếu chính phủ Mỹ – một trong những loại trái phiếu chính phủ an toàn nhất, nhưng lại có lãi suất rất thấp”, chuyên gia này cho biết.

Theo khuyến cáo của vị chuyên gia trên, ngoài việc đầu tư vào trái phiếu chính phủ Mỹ, Việt Nam cần phải đa dạng hoá nguồn dự trữ ngoại tệ thông qua việc đầu tư vào nhiều loại trái phiếu chính phủ khác nhau. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng nên nghiên cứu mô hình đầu tư một phần dự trữ vào các kênh khác để tối ưu hoá hiệu quả đồng tiền dự trữ.

Hiện chính phủ nhiều nước trên thế giới thực hiện đầu tư một phần dự trữ ngoại tệ vào những loại tài sản đem lại lãi suất cao hơn lãi suất trái phiếu chính phủ (thông qua một công ty của chính phủ như Công ty Quản lý tài sản quốc gia của Hàn Quốc hay Công ty đầu tư Temasek của Singapore…).

Theo Đầu tư

Dự trữ ngoại tệ của Việt Nam là 20,7 tỷ USD 19/06/2008 22:43

“Việt Nam tuyên bố không phá giá tiền đồng và không có chủ trương này. Lượng dự trữ ngoại tệ của Việt Nam hiện là 20,7 tỷ USD”, đó là khẳng định ông Nguyễn Văn Giàu, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Chiều tối nay (19/6), thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Ninh đã chủ trì diễn đàn truyền hình trực tuyến với các nhà đầu tư trong nước và quốc tế tại các đầu cầu Hà Nội, TP.HCM, Singapore.

Theo đánh giá của các tổ chức kinh tế, đây là thời điểm tốt để nhìn đúng đắn về hỗ trợ tăng trưởng, cũng như những thách thức trong ngắn hạn của Việt Nam.

Tâm lý đang làm méo mó tỷ giá hiện nay

Ông Nguyễn Văn Giàu: Dự trữ ngoại tệ của Việt Nam hiện là 20,7 tỷ USD.

Trả lời câu hỏi của đầu cầu Singapore “liệu có hay không việc Chính phủ VN sẽ cho phá giá VND và lượng dự trữ của Việt Nam hiện nay là bao nhiêu?”, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu khẳng định: “Việt Nam tuyên bố không phá giá tiền đồng và không có chủ trương này. Theo quy định thì không được cung cấp nhưng chúng tôi đã xin phép và được Thủ tướng chấp thuận cho công bố, hiện dự trữ ngoại tệ của Việt Nam là 20,7 tỷ USD

."

Về câu hỏi của đầu cầu TP.HCM về việc DN hiện nay phải mua đô la Mỹ với giá “chợ đen”, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu cho biết: “Diễn biến tỷ giá trên thị trường có dao động là do CPI tháng 5 vừa qua tăng cao lên mức 3,91%. NHNN cùng các NHTM đang bàn và thực hiện các giải pháp đúng theo pháp luật VN, phù hợp với điều kiện thực tiễn."

"Ngay chiều nay (19/6),  NHNN đã làm việc với các NHTM để có giải pháp. Tâm lý đang làm méo mó tỷ giá hiện nay, cùng với xử lý thông tin, cùng với quyết tâm tăng xuất, giảm nhập thì sẽ kiểm soát được tỷ giá. NHNN có quyền can thiệp để thị trường ổn định trong thời gian tới”, ông Giàu khẳng định.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Ninh tiếp lời, "chúng tôi đang đảm bảo cân đối ngoại tệ, d

ự trữ ngoại hối đủ can thiệp thị trường”.

Lạm phát phải giảm từ từ theo tháng

Theo Bộ trưởng Ninh, để giảm lạm phát hiện Chính phủ đã thực hiện chủ trương thắt chặt chi tiêu công, giảm đầu tư công từ ngân sách NN, cắt giảm đầu tư từ các DNNN, giảm 25% đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu CP, bên cạnh đó thông qua Quốc hội để điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế từ 8,4% xuống 7%, đảm bảo kiểm soát được nhập siêu và lạm phát, kiểm soát được tỷ giá.

Tại diễn đàn, các nhà đầu tư trong  và ngoài nước đã đặt gần 20 câu hỏi trực tuyến cho đại diện các cơ quan Chính phủ Việt Nam, chủ yếu liên quan tới các vấn đề về chính sách tiền tệ, tài chính, chứng khoán, đầu tư… Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Văn Giàu và Thứ trưởng Công thương Nguyễn Thành Biên đã tham gia trả lời cũng như giải đáp thắc mắc của các nhà đầu tư.

Còn về việc lãi suất, lạm phát tăng cao ắt có tác động đến nền kinh tế, ảnh hưởng đến hoạt động của DN, song Chính phủ cần DN chia sẻ trong bối cảnh khó khăn hiện nay bằng việc nhanh chóng sắp xếp lại công tác sản xuất để cắt giảm chi tiêu.

Về có thông tin DN khó vay vốn do ngân hàng thiếu tính thanh khoản, ông Giàu khẳng định không có chuyện thiếu tính thanh khỏan tại các ngân hàng, bằng chứng là 6 tháng đầu năm tín dụng ngân hàng tăng cao 20%.

“Các tổ chức tín dụng phải chọn lọc khách hàng an toàn để đảm bảo đầu tư có hiệu quả”, Thống đốc Giàu lý giải.

Chính phủ cũng đang đẩy mạnh việc cơ cấu lại nền kinh tế, đầu tư các nhà máy sản xuất, trong quý II/2009 cũng sẽ đưa nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động đáp ứng được 40% nhu cầu về xăng dầu trong nước, xây dựng nhà máy thép, phân bón, giảm nhập siêu sẽ ổn định được nền kinh tế.

Còn theo Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Thành Biên, mặc dù chưa công bố chính thức song CPI tháng 6 sẽ “rất thấp” so với các tháng đầu năm, “điều này tương quan với chính sách của ngân hàng trung ương. Tuy vậy, lãi suất sẽ phải thực dương mới có tính bền vững. Lạm phát sẽ phải giảm dần trong từng tháng và đưa lãi suất VND tiến đến thực dương."

Minh Yến

Dự Trữ Ngoại Tệ

Việt Long, Biên tập viên đài RFA
2009-12-17

Trước đà sụt giá của Mỹ kim từ đầu năm nay, nhiều quốc gia đã nêu vấn đề là đô la của Mỹ có đáng là một ngoại tệ dự trữ hay không. Tiết mục chuyên đề Diễn đàn Kinh tế nêu câu hỏi đó với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa thì được hỏi ngược lại, rằng dự trữ ngoại tệ là để làm gì?

AFP photo

Đô la Mỹ và đồng Euro. (ảnh minh họa)

Quả vậy, chức năng của khối dự trữ ngoại tệ dường như đã có thay đổi theo thời gian như chúng ta có thể thấy qua phần trao đổi do Việt Long thực hiện sau đây với ông Nguyễn Xuân Nghĩa.

Chức năng của khối dự trữ ngoại tệ

Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Khi đô la Mỹ sụt giá thì nhiều quốc gia đã nêu vấn đề về vai trò ngoại tệ dự trữ của đồng bạc xanh, như người ta hay gọi đồng Mỹ kim. Khi chúng tôi đặt câu hỏi đó cho ông thì ông hỏi ngược là dự trữ ngoại tệ hiện giữ chức năng gì?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa vâng, vì nếu hiểu rõ chức năng hiện tại so với quá khứ của khối dự trữ ngoại tệ thì ta có thể suy ngược lên, xem đồng Mỹ kim nay có đáng là một ngoại tệ dự trữ nữa không. Một đồng bạc được coi là ngoại tệ dự trữ khi các nước muốn giữ đồng bạc ấy trong khối dự trữ ngoại tệ của mình. Nếu ta biết về mục tiêu duy trì khối dự trữ ngoại tệ thì sẽ suy ra là trong cái rổ gồm có nhiều ngoại tệ ta nên giữ bao nhiêu dưới dạng Mỹ kim.

Việt Long: Chính là vì câu hỏi đó nên chương trình kỳ này sẽ tìm hiểu về chức năng của khối dự trữ ngoại tệ. Như cách ông vừa trình bày thì hình như chức năng ấy có thay đổi với thời gian và chức năng hiện tại lại có khác với ngày trước. Có đúng như vậy hay không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Ta cần trở lại chuyện xưa để hiểu ra sự chuyển hoá chức năng đó. Sau Thế chiến II, Hoa Kỳ là cường quốc giàu nhất và góp phần tái thiết các quốc gia từ Âu qua Á nên hệ thống tiền tệ quốc tế mặc nhiên đưa Mỹ kim lên ngôi vị ngoại tệ dự trữ vì xứ nào cũng định giá đồng bạc của mình theo đồng đô la. Khi ấy, Hoa Kỳ cũng hứa định giá Mỹ kim là 35 đồng thì ăn một troy ounce vàng, tương đương với chừng 31 gram.

Nhưng từ tháng Tám năm 1971, Hoa Kỳ đơn phương bứt đứt neo vàng ấy, mặc nhiên thả nổi và phá giá đồng bạc Mỹ. Khi ấy, các nước vẫn thực tế theo đuổi chế độ định giá nội tệ của quốc gia theo Mỹ kim, lâu lâu lại điều chỉnh căn cứ trên sự khác biệt về vật giá hay lạm phát của xứ mình và của Mỹ. Đó là về quy chế.

- Sau Thế chiến II, xứ nào cũng cố xuất khẩu cho nhiều để đủ ngoại tệ tài trợ việc nhập khẩu cần thiết cho tái thiết và phát triển. Vì đô la là phương tiện giao hoán phổ biến nhất nên xứ nào cũng ghim sẵn một số đô la trong túi để kịp thanh toán chênh lệch về ngoại thương. Cụ thể là phải có đủ đô la tài trợ yêu cầu nhập khẩu cho ba tháng. Mà nhập khẩu càng nhiều thì dự trữ ngoại tệ càng cao. Khi đó, khối dự trữ ngoại tệ có chức năng an toàn ngoại thương. Vì Mỹ kim là ngoại tệ dự trữ như vậy, Hoa Kỳ tất nhiên là có lợi khi mua bán, phát hành và nhất là vay mượn vì nơi nào cũng có đô la. Ngược lại các nước cũng ấn định hối suất đô la hay tỷ giá đồng bạc với tiền Mỹ sao cho có lợi về xuất khẩu mà vẫn không có khác biệt thái quá vì hối suất thấp sẽ làm hàng nhập khẩu đắt hơn.

Thực tế thì các nước vẫn cần dự trữ ngoại tệ để ứng phó với những sai lệch quá lớn về hối suất trên thị trường hối đoái hay ngoại hối quốc tế. Cụ thể là có ngoại tệ để kịp bán ra hầu giữ cho đồng nội tệ khỏi mất giá.

Việt Long: Thế rồi chức năng ấy bắt đầu thay đổi từ lúc nào, vì lý do gì và nay đang đi tới đâu?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Chế độ neo giá đồng nội tệ vào Mỹ kim theo một tỷ giá nhất định ấy quá cứng ngắc nên dần dần được bỏ, để cho thị trường quyết định về hối suất theo quy luật cung cầu. Việc ấy càng trở thành phổ biến khi Chiến tranh lạnh kết thúc, là từ đầu thập niên 90, và khi tư bản được tự do giao dịch giữa các nước. Trên lý thuyết thì các nước khỏi cần dự trữ ngoại tệ nữa vì về dài thì sai biệt hối suất trên thị trường sẽ tự đồng điều chỉnh sai biệt về xuất nhập khẩu. Nhập siêu sẽ giảm dần nhờ hốt suất thấp chẳng hạn. Thực tế thì các nước vẫn cần dự trữ ngoại tệ để ứng phó với những sai lệch quá lớn về hối suất trên thị trường hối đoái hay ngoại hối quốc tế. Cụ thể là có ngoại tệ để kịp bán ra hầu giữ cho đồng nội tệ khỏi mất giá.

Việt Long: Như vậy, theo chế độ hối suất tự do ấy thì chức năng an toàn của dự trữ ngoại tệ vẫn còn nguyên vẹn?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Chẳng những nguyên vẹn mà còn tăng, nhưng không vì ngoại thương mà vì lý do ngoại hối. Đã thế, vì quy chế tự do chuyển dịch tư bản, cụ thể là tiền có thể chảy từ xứ này qua xứ khác, ta có một rủi ro mới. Đó là thị trường có quyền vay mượn và đầu tư bằng ngoại tệ của xứ khác. Vì vậy, dự trữ ngoại tệ phải có mức tối thiểu nào đó, không tính theo ba tháng nhập khẩu mà tính qua số nợ ngoại quốc sẽ đáo hạn trước mắt, trong đó có công trái của nhà nước và nợ của tư doanh. Ngược lại, khi đi vay thì cũng phải tính xem có khả năng trả nợ bằng xuất khẩu hay không. Sở dĩ như vậy vì, thí dụ như khi thấy lãi suất tại Mỹ quá rẻ, người ta vay tiền trên thị trường Mỹ đem về cho vay lại ở nhà với phân lời cao hơn, hoặc đầu tư để kiếm lợi nhiều hơn, và có khi lại thổi lên bong bóng. Khi đó, các nước phải có sẵn dự trữ đủ cao để phòng xa bóng bể, chủ nợ rút vốn đem về hoặc đem qua thị trường khác có lời hơn.

- Thế rồi vì muốn giữ giá đồng Bath cho cao – cao hơn tỷ giá tự nhiên của thị trường – lại không đủ dự trữ cho lượng giao dịch quá lớn, tháng Bảy năm 1997, Thái Lan phải thả nổi, tức là bứt neo và phá giá đồng Bath, và bị biến động hối đoái khiến Đông Á bị khủng hoảng năm 1997-1998 rồi bị suy trầm nặng. Đấy là biến cố lịch sử làm thay đổi chức năng của dự trữ ngoại tệ.

các nước phải có sẵn dự trữ đủ cao để phòng xa bóng bể, chủ nợ rút vốn đem về hoặc đem qua thị trường khác có lời hơn.

Dự trữ ngoại tệ còn là một kho đầu tư

Việt Long: Nghe đến đây thì tôi giật mình nghĩ tới trường hợp Việt Nam ngày nay với tỷ lệ vay nợ ngoại quốc quá cao và dự trữ ngoại tệ quá thấp.

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chúng ta sẽ trở lại chuyện đáng ngại ở Việt Nam trong phần cuối. Chỉ xin nhắc lại chuyện xưa là khủng hoảng ngoại hối tại Thái đã lan khắp nơi, gây chấn động mạnh tại các nước mắc nợ ngoại quốc nhiều nhất, rồi dội qua xứ Brazil và Liên bang Nga rồi từ Nga chạy ngược về Hoa Kỳ làm một tổ hợp đầu tư đối xung, hay hedge fund của Mỹ bị vỡ nợ năm 1998. Trước cơn chấn động ấy, các quốc gia lâm nạn, kể cả Nhật, đều rút tỉa bài học là phải coi chừng sức bùng phá của thị trường hay các nghiệp vụ đầu cơ và nhất là đừng dại dột ấn định trị giá nội tệ quá cao nếu không có một lượng dự trữ ngoại tệ đủ dày.

- Từ kinh nghiệm Đông Á đó, đa số các nước thay đổi chiến lược vĩ mô. Đó là ấn định hối suất thấp để xuất khẩu bằng mọi giá và gom tiền về lập một khối dự trữ ngoại tệ rất lớn. Ngày nay, tổng số dự trữ ngoại tệ trên thế giới, nếu tính bằng Mỹ kim, đã lên hơn gấp đôi so với ba bốn năm trước. Đứng đầu là Trung Quốc với 2.300 tỷ đô la, sau là Nhật với 1.050 tỷ, khối Euro có 760 tỷ, Liên bang Nga 400 tỷ, xứ Saudi Arabia có 395 tỷ, Đài Loan 350 tỷ, Ấn Độ gần 300 tỷ, Nam Hàn 270 tỷ và Brazil chừng 230 tỷ, đây là các con số tính đến tháng Chín vừa qua.

Việt Long: Khi các nước ghim nhiều tiền như vậy thì đâu có phải là để trang trải yêu cầu về nhập khẩu hoặc những biến động ngoại hối do đầu tư hay vay mượn về tài chính nữa?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Thưa vâng và nếu kể thêm quỹ đầu tư quốc doanh của các chính quyền đem đầu tư kiếm lời trên các thị trường tài chính quốc tế thì khả năng dự trữ ngoại tệ còn lớn hơn gấp bội. Khi ấy, và đây là chức năng mới, khối dự trữ ngoại tệ là một kho đầu tư có khả năng đối phó được với các làn sóng đầu cơ trong ngắn hạn để nhắm vào mối lợi dài hạn.

- Khi tích lũy khối dự trữ ngoại tệ lớn lao như vậy trong mục đích đầu tư thì các quốc gia đều tự hỏi là đầu tư vào đâu là có lời nhất và an toàn nhất? Từ câu hỏi ấy, người ta mới nghĩ tiếp về cơ cấu và tỷ phần của khối dự trữ này. Chẳng hạn như giữ bao nhiêu phần trăm dưới dạng vàng, quý kim, bao nhiêu dưới dạng ngoại tệ, mà là ngoại tệ nào… Và dưới dạng tài sản của nước khác như vậy thì bao nhiêu là cổ phiếu, bao nhiêu là trái phiếu hay công khố phiếu?

Khi ấy, và đây là chức năng mới, khối dự trữ ngoại tệ là một kho đầu tư có khả năng đối phó được với các làn sóng đầu cơ trong ngắn hạn để nhắm vào mối lợi dài hạn.

- Câu hỏi ấy mới quyết định về tương lai của đồng Mỹ kim, tương lai ấy cũng tùy vào mức lưu hoạt và độ an toàn của việc đầu tư tài chính trên thị trường Hoa Kỳ. Và có lẽ là câu trả lời của các nước trong năm qua có góp phần làm Mỹ kim sụt giá vì các nước đã bán Mỹ kim để đa dạng hoá các diện đầu tư thay vì chỉ giữ tài sản bằng đô la Mỹ. Ngược lại, vì chiều dày và chiều rộng, từ phẩm đến lượng, thị trường tài chính Mỹ vẫn là thị trường an toàn nhất với triển vọng có lợi sẽ khả quan hơn, cho nên các nước vẫn còn phải giữ rất nhiều đô la để đầu tư vào đây. Cho nên, bảo rằng phải thay thế Mỹ kim bằng một ngoại tệ khác là người ta đã lầm nhân với quả.

Việt Long: Bây giờ ta trở lại chuyện Việt Nam với mối nguy hối đoái hiện nay. Theo như ông trình bày thì các nước đã thay đổi nhanh và mạnh trong 10 năm qua, mà Việt Nam thì mới chỉ đi tới trình độ dự trữ ngoại tệ làm kho an toàn về ngoại thương mà có lẽ chưa an toàn lắm.

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Việt Nam bị bội chi ngân sách, tức là chi nhiều hơn thu, bằng với tám tỷ đô la; bị nhập siêu, tức là nhập nhiều hơn xuất khẩu, chừng 12 tỷ đô la trong khi đầu tư nước ngoài và tiền bạc của người Việt ở ngoài gửi về đều sút giảm mạnh. Trong khi ấy, ngoại trái tức là tiền vay ngoại quốc của Việt Nam cũng lại tăng và đã lên tới 40% tổng sản lượng GDP, chưa nguy ngập mà cũng là đáng ngại. Vì vậy, dự trữ ngoại tệ bị hao hụt mất 30% và nay chỉ còn chừng 16 tỷ Mỹ kim, chưa đủ cho ba tháng nhập khẩu. Nếu kể về khả năng dự trữ ngoại tệ so với các nước khác như vừa nói thì Việt Nam đội sổ và khó tránh được khủng hoảng về ngoại hối, là điều mà giới đầu tư nước ngoài đã báo động, gần nhất là lượng định của tập đoàn đầu tư Nomura hôm mùng tám tuần trước. Điều đáng chú ý là trong khi ấy, không thiếu gì người Việt có chức có tiền vẫn đem tiền ra ngoài và tình hình ở nhà càng nguy ngập thì lượng đầu tư ra ngoài như vậy lại càng nhiều. Nhìn về kinh tế thì đấy là một hình thái tẩu tán tư bản khiến tôi ngậm ngùi nghĩ tới trường hợp của Việt Nam Cộng Hoà thời trước.

Việt Long: Chúng tôi biết là trước 1975, ông đã là Phụ tá Tổng trưởng Tài chính, khi ấy ông thấy việc quản lý ngoại tệ của miền Nam ra sao?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Thời ấy dân số miền Nam có khoảng 24 triệu, và chẳng có cộng đồng hải ngoại gửi tiền về tiếp tế. Thời ấy, Việt Nam vẫn đang có chiến tranh nên sản xuất bị thu hẹp, chưa thể xuất cảng gạo lại chưa có dầu hỏa. Và mấy năm 1973-1974 còn bị cơn chấn động dầu khí và bị Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ. Nhưng miền Nam vẫn giữ đủ 16 tấn vàng, tương đương với chừng 120 triệu Mỹ kim và còn dự trữ ngoại tệ đầu tư ở ngoài trị giá hơn 170 triệu, tổng cộng là gần 300 triệu. So với yêu cầu nhập khẩu thì vẫn là cao. Và dù có đầy biến động ta không thấy có nạn lãnh đạo tẩu tán tài sản như một số báo chí đã xuyên tạc, cho nên chế độ mới đã lấy đủ số vàng này đem đi đâu mất, rồi còn gây ra khủng hoảng kinh tế. Sau này còn đòi lại dự trữ ngoại tệ của chính quyền cũ đầu tư ở bên Mỹ, tính cả vốn lẫn lãi kép thì cũng là mấy trăm triệu. Tôi thấy ngậm ngùi là vì cái cảnh phú quý giật lùi như vậy.

Copyright © 1998-2010 Radio Free Asia. All rights reserved.

About these ads

About honhuhai

Lượm lặt những bài viết trên internet, nhờ Wordpress giữ giúp rồi 1 ngày đẹp trời nào đó đem ra xài.....
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s