Phát triển thương mại nông thôn

Nguồn : http://www.kinhtenongthon.com.vn/Story/VandeSukien/2010/3/22657.html

Phát triển thương mại nông thôn (Bài 1): Tạo điều kiện cho nông nghiệp hàng hóa

KTNT – Một nền nông nghiệp hiện đại không đơn thuần chỉ là giống mới, công nghệ tiên tiến mà còn phải có hệ thống thương mại nông thôn phát triển. Nhưng trên thực tế, ngay cả ở những địa phương có nền nông nghiệp hàng hóa phát triển nhưng mạng lưới chợ cũng rất thiếu hoặc quy hoạch không hợp lý.

Đề án phát triển thương mại nông thôn 2010-2015, định hướng đến 2020 đang được kỳ vọng sẽ giải tỏa được những hạn chế, khúc mắc này.

Bài I: Ưu tiên phát triển mạng lưới chợ

Ngày 6/1/2010, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 23/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2010-2015 và định hướng đến năm 2020. Đề án đề cập đến rất nhiều vấn đề tổng quát, nhằm xây dựng quy trình phát triển đồng bộ, bền vững cho thương mại nông thôn. Trong đó, nhấn mạnh việc hình thành mạng lưới chợ…

Nơi thừa, nơi thiếu

Thị trường nông thôn có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội. Đây là nơi sản xuất lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng trong nước, xuất khẩu và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.

Tuy nhiên, thị trường nông thôn và nền sản xuất nông nghiệp vẫn manh mún, chưa gắn chặt với sản xuất khiến việc tiêu thụ nông sản gặp nhiều khó khăn. Hàng hóa yếu thế cạnh tranh, nhiều mặt hàng có chất lượng thấp. Trong khi đó, vai trò của thương nhân ở địa bàn nông thôn mới chủ yếu phát huy được ở khâu tiêu thụ nông sản và mở đầu kênh phân phối; vai trò thương mại Nhà nước và hợp tác xã khá mờ nhạt; các cơ sở kinh doanh vừa thiếu vừa nghèo nàn, lạc hậu. Nạn kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng và hành vi gian lận thương mại còn phổ biến; việc chấp hành pháp luật về đăng ký kinh doanh, thuế, sổ sách kế toán thống kê, báo cáo tài chính, nhãn mác hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường còn lỏng lẻo và tùy tiện.

Hiện nay, tại nhiều địa phương vẫn thiếu chợ. Điển hình như các tỉnh phía Bắc, Tây Nguyên, bình quân 10km2 chỉ có 0,1-0, 2 chợ. Cả nước còn hơn 3.000 xã thiếu chợ hoặc chỉ có chợ quy mô nhó; 43% chợ tạm. Trong khi đó, nhiều chợ đầu mối xây dựng hoành tráng, kinh phí hàng tỷ đồng lại không phát huy hiệu quả.

Trung tâm thương mại trái cây quốc gia Hòa Khánh là một thí dụ. Xây dựng trên diện tích hơn 12ha tại xã Hòa Khánh (Cái Bè – Tiền Giang), Trung tâm thương mại trái cây quốc gia Hòa Khánh là công trình hợp tác kinh tế giữa tỉnh Tiền Giang và Tổng công ty Thương mại Sài Gòn (SATRA), với tổng số vốn trên 97 tỷ đồng. Có địa thế khá thuận lợi (mặt tiền là Quốc lộ 1A, phía sau có con kênh lớn chảy ra sông Trà Lọt, nối liền với hệ thống kênh rạch tự nhiên và diện tích vườn cây ăn trái của các huyện Cái Bè, Cai Lậy), trung tâm này được kỳ vọng là đầu mối tiêu thụ trái cây lớn nhất ĐBSCL. Tuy nhiên, từ khi đưa vào khai thác (cuối năm 2005) đến nay, hoạt động kinh doanh của trung tâm không hiệu quả như mong đợi. Hạng mục được khai thác đầu tiên là khu nhà hàng và siêu thị bán lẻ trái cây rộng 7.000m2. Dù Tiền Giang đã công bố nhiều chính sách ưu đãi nhưng khu siêu thị vẫn rất vắng khách, các nhà vườn cũng không đưa hàng vào bán.

TS. Mai Văn Nam (Trường Đại học Cần Thơ) cho rằng: “Việc hình thành, mở rộng các chợ đầu mối cần tính toán kỹ lưỡng nhu cầu khách quan cần thiết. Chợ đầu mối không chỉ là nơi để mua bán, mà còn là nơi giao dịch hàng nông sản với nhiều phương thức kinh doanh khác nhau. Không nên cho rằng việc xây dựng, hình thành các chợ đầu mối chỉ đơn thuần là đầu tư cơ sở hạ tầng, phân lô, phân nền cho các tổ chức, cá nhân thuê chỗ kinh doanh. Phải coi chợ đầu mối là nơi để các tổ chức, cá nhân đến giao dịch nông sản chứ không phải lập ra để bán quầy, sạp”.

Cơ hội đổi mới các vùng quê

Theo Bộ Công Thương, hiện có đến 45% hàng hoá được lưu chuyển qua chợ dân sinh. ông Nguyễn Xuân Chiến, Phó vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cho biết, mục tiêu phát triển thương mại nông thôn nhằm kích thích tiêu dùng và tăng nhanh sức tiêu thụ hàng hoá trong nước. Do vậy, trong năm 2010, cơ bản hoàn thành việc rà soát, đánh giá và tổ chức lại hợp tác xã thương mại ở địa bàn nông thôn.

Đề án nêu rõ đến năm 2011, quy hoạch phát triển hạ tầng thương mại ở địa bàn nông thôn, trong đó có quy hoạch chợ biên giới phải được hoàn thành. Đến năm 2015, 50% chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu được nâng cấp, cải tạo và xây mới. Từ nay đến năm 2020, sẽ cải tạo, nâng cấp 142 chợ và xây mới 276 chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu với tổng vốn đầu tư 1.534 tỷ đồng.

Năm tiếp theo (2012), các chợ đầu mối nông sản sẽ được xây dựng xong tại các vùng sản xuất hàng hoá tập trung như chợ lúa gạo ở Cần Thơ, chợ nông sản Nghệ An, Hải Dương, chợ rau quả chất lượng cao ở Lâm Đồng… Đây là cơ sở để hình thành các trung tâm đấu giá và sở giao dịch hàng nông sản. Đến năm 2020, với tổng số vốn đầu tư dự kiến là 6.040 tỷ đồng, các địa phương sẽ tiến hành cải tạo, nâng cấp 31 chợ và xây mới 82 chợ đầu mối nông sản ở địa bàn nông thôn. Ngoài ra, sẽ xây dựng 3.000 chợ tại 3.000 xã chưa có chợ từ nay đến năm 2020 với tổng vốn đầu tư 1.500 tỷ đồng.

Nếu mọi việc tốt đẹp, đến năm 2015, chúng ta sẽ có 100% chợ trung tâm huyện được kiên cố hóa, 30% thị trấn có loại hình tổ chức phân phối quy mô nhỏ và vừa; tỷ lệ hàng nông sản được tiêu thụ thông qua hợp đồng chiếm 25 – 30%, đến năm 2020 là 45 – 50%.

Với đề án này, lần đầu tiên, doanh nghiệp (DN) khi mở rộng mạng lưới kinh doanh ở nông thôn có thể được hưởng hàng loạt chính sách ưu đãi lớn về thuế, tín dụng.

Đề án đề xuất nhiều giải pháp để cả DN và nông dân đều yên tâm đầu tư, sản xuất như sửa đổi cơ chế chính sách hỗ trợ DN, quy hoạch hạ tầng thương mại tại địa bàn khó khăn, khuyến khích tiêu thụ nông sản theo hình thức ký hợp đồng, tạo sự liên kết mang tính bền vững giữa DN và nông dân.

Về nguồn vốn đầu tư, sẽ được huy động trên cơ sở vốn ngân sách nhà nước kết hợp vốn huy động từ xã hội. Riêng chợ ở địa bàn khó khăn và đặc biệt khó khăn thì do ngân sách Trung ương hỗ trợ.

Mục tiêu đề ra hoành tráng nhưng để đạt được theo đúng lộ trình thì còn rất nhiều khó khăn, thử thách.

Phát triển thương mại nông thôn (Bài 2): Thông chính sách, vướng thực tế

KTNT – Đề án phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2010 – 2015, định hướng đến năm 2020 đã nêu rõ tầm quan trọng của hệ thống các chợ đầu mối, siêu thị, cửa hàng tiện ích… Tuy nhiên, để xây dựng hệ thống chợ, trung tâm thương mại hợp quy hoạch, mang lại hiệu quả cao, rất cần những giải pháp đồng bộ, sự góp sức của cả cộng đồng.

Bài I: Ưu tiên phát triển mạng lưới chợ

Gặp khó vì thiếu vốn

Có thể khẳng định, thiếu vốn là khó khăn đầu tiên mà bất kỳ địa phương nào cũng gặp phải khi bắt tay vào xây dựng và thực hiện quy hoạch, phát triển hệ thống chợ. Bởi với số tiền hỗ trợ 500 triệu đồng từ Trung ương, địa phương khó có thể hoàn thiện hệ thống chợ, siêu thị, cửa hàng tiện ích… Vẫn biết công tác này cần sự vào cuộc của cả cộng đồng thông qua chương trình xã hội hóa việc xây chợ, nhưng chính bản thân người dân cũng chưa thực sự hiểu rõ thì làm sao có thể kêu gọi họ đóng góp, tham gia? Thực trạng xây và sử dụng chợ nông thôn ở tỉnh Bình Dương là một ví dụ.

Hiện, phần lớn chợ tại các địa phương của tỉnh Bình Dương là chợ tạm, chợ tự phát, có quy mô nhỏ, hệ thống hạ tầng kém. Hiện chỉ có 12/71 chợ xã đạt chuẩn của Bộ Xây dựng, chiếm 16,9%. Trong tiến trình xây dựng nông thôn mới, Bình Dương đề ra mục tiêu đến năm 2010, 100% số xã trên địa bàn tỉnh phải có chợ. Mục tiêu này xem ra khó hoàn thành khi cho đến nay ở các huyện Phú Giáo, Bến Cát chưa xã nào có chợ đạt chuẩn, việc xây dựng chợ nông thôn chưa được đầu tư đúng mức. Nguyên nhân được lãnh đạo địa phương đưa ra là chưa tìm được chủ đầu tư thích hợp.

Trong thời gian qua, lãnh đạo các địa phương cũng đã nhận ra tầm quan trọng và sự cần thiết của việc xây chợ nên có sự đầu tư mạnh mẽ cho việc hình thành mạng lưới chợ. Tuy nhiên, do nguồn kinh phí hạn chế, nhiều địa phương chỉ có thể cải tạo, nâng cấp, sửa chữa chứ không thể đầu tư xây mới. Trong khi đó phong trào xã hội hóa đầu tư phát triển chợ vẫn chưa đạt được kết quả cao. Lý do lớn nhất là nguồn vốn để xây dựng chợ rất lớn, trong khi khả năng hoàn vốn thấp và kéo dài. Từ đó dẫn đến thực tế các nhà đầu tư chỉ tập trung đầu tư xây dựng chợ tại các nơi có khả năng sinh lời nhanh, ngoảnh mặt với việc xây dựng chợ nông thôn hoặc ở vùng sâu, vùng xa.

Đánh giá về sự phát triển của hệ thống thương mại nông thôn, bà Nguyễn Hoàng Ngân, Phó giám đốc Trung tâm Thông tin, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn cho rằng: “Mạng lưới chợ vẫn là kênh lưu thông hàng hoá chủ yếu từ nay đến năm 2020; mỗi chợ là hạt nhân để quy tụ, tập trung các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá tổng hợp ở từng khu dân cư. Cần chú ý phát triển chợ theo địa bàn và phát triển chợ theo thị trường hàng hoá. Theo đó, nên chú trọng việc đầu tư phát triển các chợ dân sinh, phục vụ sản xuất và đời sống tại chỗ của nông dân. Trong quá trình này, cần quan tâm xây dựng cơ sở vật chất cho chợ. Đầu tư xây dựng chợ gắn với quy hoạch nông thôn và quy hoạch phát triển thương mại trên từng địa bàn cụ thể. Khuyến khích tăng số hộ kinh doanh trên chợ và tăng thời gian bán hàng hàng ngày của các hộ”.

Chưa kể việc xây dựng, phát triển chợ còn thiếu đồng bộ. Một số chợ đã xây dựng xong nhưng chưa có đường giao thông. Không ít chợ được xây dựng ở địa điểm không hợp lý, khó thu hút được tiểu thương tham gia, dẫn đến lãng phí tiền của của Nhà nước.

Người dân thờ ơ

Một thực tế nữa là, một số chợ tại các xã vùng sâu hiện nay vẫn chưa thể hoạt động hiệu quả vì có rất ít người mua và xuất hiện tình trạng người dân không muốn vào chợ xây mới mà chỉ thích mua bán ở các chợ “xổm”. Chị Nguyễn Thị Hân ở ấp 30/4, xã An Linh (Phú Giáo – Bình Dương) cho biết: “Các mặt hàng bày bán trong chợ An Linh khá phong phú nhưng người dân rất ít vào chợ để mua vì họ quen mua ở cửa hàng tạp hóa. Có một vài người từ thị trấn vào đây buôn bán thử nhưng thấy không hiệu quả nên đã rút lui. Vào dịp lễ, Tết, đa số người dân mua sắm ở chợ thị trấn, nên chợ xã buồn hiu!”.

Ờ địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, các sản phẩm nông sản chủ yếu được cung ứng theo hai loại hình. Người sản xuất (chủ yếu là nông hộ nhỏ lẻ) bán cho các đầu mối thu gom, các đầu mối mang đi tiêu thụ tại chợ trung tâm huyện, tỉnh hoặc bán cho các nhà máy chế biến. Trường hợp thứ hai là người sản xuất bán cho các đầu mối thu gom, đại lý. Các đại lý bán (chủ yếu là gạo và các loại đặc sản của địa phương) trực tiếp cho người tiêu dùng. Cũng có người tự mang nông sản đến bán tại chợ (các loại rau quả)… Chính vì vậy, nhiều người chưa thấy hết được vai trò, lợi ích của chợ trong hoạt động giao thương.

Bên cạnh đó, do thu nhập của người dân nông thôn còn thấp nên nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm hàng hóa chất lượng cao khá hạn chế. Thành phần tham gia tại các chợ nông thôn là các hộ nông nghiệp với các mặt hàng kinh doanh chủ yếu là nông sản, thực phẩm tươi sống tự sản xuất và nuôi trồng. Các hộ tự trao đổi hàng hoá với nhau hoặc cung ứng cho thương lái. Các hộ tiểu thương kinh doanh hàng hoá và dịch vụ tại chợ chiếm số lượng ít, chủ yếu là vải sợi, quần áo may sẵn, bách hoá tổng hợp, dịch vụ ăn uống giải khát. Chính vì vậy, hoạt động thương mại ở nông thôn chưa phát triển, chưa kích thích sản xuất và hình thành nền nông nghiệp hàng hóa.

Cách làm của Lào Cai

Ở Lào Cai, ngoài các chợ trung tâm cụm xã, toàn tỉnh đã có thêm 7 cửa hàng đại lý thương nghiệp bán lẻ tại các điểm: cụm xã Thanh Bình, Nậm Chảy (Mường Khương); Bản Liền, Cốc Ly (Bắc Hà); Tả Phìn, Bản Hồ (Sa Pa); Dương Quỳ (Văn Bàn) và Tòng Sành (Bát Xát)…, nâng số lượng cửa hàng bán lẻ toàn tỉnh lên hàng trăm điểm, cung cấp đủ các mặt hàng cho nông dân, đồng thời tổ chức tiêu thụ nông sản cho bà con. Nhiều địa phương như Bảo Yên, Bảo Thắng, Bát Xát và Mường Khương, hệ thống thương nghiệp phát triển nhanh và bài bản. Ở đâu có đường giao thông là có điểm đại lý cung cấp đầy đủ mặt hàng thiết yếu cho người dân và thực hiện thu mua nông sản cho nông dân tới đó. Mới đây đã xuất hiện một số doanh nghiệp và cá nhân ở Bảo Thắng, Bảo Yên đứng ra thu mua hàng hoá nông sản cho nông dân và nhận làm điểm đại lý trao đổi thu mua hàng khi nông dân có nhu cầu.

Ngoài ra, Lào Cai còn chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý HTX thương mại dịch vụ, cán bộ ban quản lý chợ và lao động nông thôn tham gia kinh doanh thương mại, có chính sách hỗ trợ nông dân nâng cao chất lượng, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm. Đối tượng hỗ trợ là những sản phẩm đã được bình chọn, đáp ứng các tiêu chí cơ bản về chất lượng, tính đặc trưng, có giá trị đặc biệt trên thị trường và mang lại giá trị kinh tế cao cho người sản xuất và có khả năng sản xuất với khối lượng lớn như rau sạch, hoa cao cấp, gạo Séng Cù, lúa hương thơm, tương ớt Mường Khương và sản phẩm thổ cẩm các loại. Đổi lại, người dân sẽ được các nhà phân phối đưa những mặt hàng sản xuất trong nước đến tận nơi có nhu cầu với giá hợp lý và thanh toán thuận tiện nhất.

Cả nước hiện có khoảng 9.000 chợ, trong đó chợ ở nông thôn chiếm 76%; chỉ có 11% chợ kiên cố (chủ yếu tập trung ở đô thị, thị trấn), 31% chợ bán kiên cố, hơn 33% chợ lều lán, gần 25% chợ họp ngoài trời. Có khoảng 2 triệu hộ kinh doanh thường xuyên tại chợ, chiếm 40% số người hoạt động thương mại dịch vụ trong cả nước, trong đó người buôn bán cố định tại chợ chiếm khoảng 51%.

Doanh số bán lẻ của chợ ước đạt khoảng 40% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ xã hội; số người thường xuyên trao đổi tại chợ chiếm 80% người tiêu dùng.

Phát triển thương mại nông thôn (Bài 3)Học cách mua bán hiện đại

Nếu biết cách tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng, nông dân sẽ không phải lo lắng trước biến động của thị trường.

KTNT – Một trong những yếu tố giúp hệ thống thương mại nông thôn phát triển ổn định, hiện đại là thay đổi phương thức giao thương. Theo Quyết định 80/2002 của Thủ tướng Chính phủ, phấn đấu đến năm 2015, tỷ lệ hàng nông sản được tiêu thụ thông qua hợp đồng sẽ chiếm từ 25-30% và đến năm 2020 là 45-50%. Tuy nhiên, trước thực tế mua bán nông sản hiện nay, mục tiêu trên dù khiêm tốn nhưng cũng không dễ thực hiện.

Mục tiêu để… ngắm

Ai cũng hiểu, tiêu thụ hết nông sản qua hợp đồng sẽ tạo điều kiện để sản xuất nông nghiệp gắn với chế biến, tiêu thụ, thu hút nhiều doanh nghiệp (DN) và nông dân tham gia, qua đó góp phần hình thành các vùng sản xuất nông sản hàng hoá tập trung, vùng sản xuất hàng nông sản chất lượng cao theo hướng bền vững. Tuy nhiên, trong thực tế, tỷ lệ hàng hóa được tiêu thụ qua hợp đồng còn thấp.

Ngay từ năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 80/2002/QĐ-TTg về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng – xây dựng mối liên kết “4 nhà”: Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà nông. Trong đó, Nhà nước khuyến khích các DN ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hoá với nông dân nhằm gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản, ổn định sản xuất và phát triển bền vững. Thế nhưng, 8 năm qua, vẫn chưa thể thiết lập mối liên kết giữa “4 nhà”.

Quyết định 80 đề ra mục tiêu: mở rộng phương thức ký hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hoá để đến năm 2005 ít nhất 30%, đến năm 2010 có trên 50% sản lượng nông sản hàng hoá của một số ngành sản xuất hàng hoá lớn được tiêu thụ thông qua hợp đồng. Thế nhưng, năm 2005, mục tiêu đạt 30% số lượng nông sản hàng hoá được tiêu thụ thông qua hợp đồng chỉ thành công đối với một số nông sản như mía, bông, sữa. Các mặt hàng chủ lực khác là càphê, lúa, thủy sản không đạt được mục tiêu đề ra. Năm 2010 đã đến, mục tiêu 50% sản lượng nông sản được tiêu thụ thông qua hợp đồng là nhiệm vụ khó khả thi. Đơn cử như mặt hàng lúa, thống kê của Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và PTNT), lúa hàng hoá tiêu thụ thông qua hợp đồng chỉ chiếm khoảng 6 – 9% sản lượng. Trong khi đó Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Một số mặt hàng chủ lực khác như thuỷ sản tiêu thụ qua hợp đồng chỉ đạt dưới 10% sản lượng, càphê ở mức 2 – 5 % diện tích.

Không “nhà” nào có trách nhiệm với vai trò của mình

Trong mối liên kết “4 nhà” thì DN và nhà nông đóng vai trò quan trọng nhất. DN sẽ là trung tâm của chuỗi tiêu thụ này bởi họ là người chủ động ký kết hợp đồng, hướng dẫn, giúp đỡ nông dân áp dụng tiến bộ kỹ thuật, hỗ trợ vay vốn và vật tư nông nghiệp, thực hiện bao tiêu sản phẩm với giá thoả thuận, bảo đảm lợi ích của cả hai bên. Tuy nhiên, hầu hết các DN đều thụ động trong công tác này. Theo Phó cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông nghiệp Lê Quý Đăng, các DN có một số hạn chế về năng lực sản xuất, mạng lưới thu gom nông sản còn thiếu, chưa thực sự làm tốt vai trò trung tâm trong mối liên kết. Bên cạnh đó, còn có hiện tượng một số DN lạm dụng độc quyền ép giá, ít quan tâm đầu tư cho vùng nguyên liệu.

Nhà nông trực tiếp làm ra sản phẩm, tuy nhiên họ tham gia mối liên kết một cách thụ động. Nội dung hợp đồng thường do DN đưa ra, thiếu sự bàn bạc, thương thảo với nông dân, nên lợi ích của người sản xuất chưa thoả đáng. Khó khăn khi tham gia liên kết “4 nhà” của nhà nông còn do trình độ sản xuất, tập quán sản xuất lạc hậu, chưa theo kịp yêu cầu sản xuất hàng hóa; tiềm lực sản xuất, kinh tế của nông dân còn thấp, thiếu thông tin thị trường, các kiến thức về pháp luật. Và trên thực tế cũng đã xuất hiện hiện tượng nông dân chưa tôn trọng đúng các cam kết trong hợp đồng đã ký với DN. Nhiều DN dù thiếu nguyên liệu nhưng vẫn không thể mua sản phẩm của nông dân do không đạt tiêu chuẩn yêu cầu, hoặc nông dân bán sản phẩm cho đối tượng khác do giá cao hơn hợp đồng đã ký kết.

Thiếu tiếng còi của “trọng tài”

Nhà nước tham gia mối liên kết với vai trò hỗ trợ, điều phối thông qua các chính sách khuyến khích và đầu tư xây dựng hạ tầng, quy hoạch vùng nguyên liệu, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, xúc tiến thương mại, đồng thời là người kiểm tra, giám sát và bảo đảm tính pháp lý cho việc thực hiện hợp đồng giữa các bên. Do đó có thể nói rằng, Nhà nước đóng vai trò trọng tài trong quá trình liên kết “4 nhà”.

Theo Chủ tịch Hội nông dân TP Hà Nội Trịnh Thế Khiết, để mối liên kết “4 nhà” đạt hiệu quả và mang lại quyền lợi cho người nông dân, Nhà nước cần phát huy hết vai trò trọng tài trong mối liên kết này. Ngoài ra, Nhà nước, nhà khoa học, DN phải luôn sâu sát với nông dân, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu sản xuất của nông dân để có cơ chế, chính sách hỗ trợ vốn và bao tiêu sản phẩm hàng hóa của nông dân. Từ đó giúp nông dân đầu tư phát triển đúng hướng, đáp ứng yêu cầu của thị trường và DN. Bên cạnh đó, đa phần các DN còn thiếu vốn sản xuất nên Nhà nước cần tạo điều kiện để họ được hưởng các ưu đãi về đất đai, đầu tư, nguồn vốn ngân hàng… như đã quy định trong Quyết định 80. Ngoài ra, Nhà nước cũng cần hướng dẫn DN, nông dân ký kết, thực hiện hợp đồng và giải quyết khi xảy ra tranh chấp.

Tiêu thụ nông sản qua dịch vụ SMS

Tháng 11/2008, Viettel Media đã cho ra đời iNhaNong. Đây là phần mềm SMS các thông tin nông nghiệp được cài đặt sẵn trên máy của khách hàng, giúp nông dân dễ dàng tra cứu thông tin nông nghiệp của 20 tỉnh thành trong cả nước thuộc dự án của Trung tâm Tin học thống kê ICARD (Bộ Nông nghiệp và PTNT). Đầu năm 2009, chương trình chính thức đi vào hoạt động.

Ông Trần Lâm Đường – Phó giám đốc Trung tâm ICARD cho biết: “Để sử dụng dịch vụ, người dùng chỉ cần có điện thoại di động không cần kết nối internet; cài đặt phần mềm và truy cập vào menu mong muốn rồi gửi tin. Hiện tại, phần mềm cung cấp 3 dịch vụ: tra cứu giá nông sản, đăng giá nông sản và đăng tin rao vặt. Phần mềm đã được đơn giản hóa tối đa cách tra cứu, truyền tải và thu thập thông tin nông nghiệp, người sử dụng chỉ cần cài đặt và lựa chọn danh mục mong muốn và gửi tin, hệ thống sẽ trả về thông tin yêu cầu”.

Nếu sử dụng dịch vụ bằng phần mềm, đầu tiên nông dân sẽ tải phần mềm mang tên Client. Phần mềm này được tải miễn phí. Nếu sử dụng dịch vụ hoàn toàn bằng SMS, người dùng không phải tải phần mềm mà sẽ tra cứu thông tin bằng cách gửi SMS đến số 8062. Mức phí cho mỗi tin nhắn là 500 đồng.

Hiện nay, kho thông tin dữ liệu của ICARD đã khá dày dặn để đáp ứng nhu cầu của nông dân. Có gần 230 điểm cung cấp thông tin thường xuyên tại 23 tỉnh, bao quát phần lớn những mặt hàng nông sản chính của các địa phương này. Mật độ cập nhật tin tức khá thường xuyên, có những loại nông sản (như lúa gạo, rau, quả…) được cập nhật tin hàng ngày; những loại cây công nghiệp (càphê, tiêu, điều, lạc) cập nhật 3 ngày 1 lần; các sản phẩm thuộc nhóm vật tư, phân bón, thuốc thú y, bảo vệ thực vật… được cập nhật tin tức, giá cả 1 tuần 1 lần.

Phần mềm cũng cho phép cán bộ khuyến nông truyền tải thông tin giá cả về trung tâm qua hệ thống SMS. Sắp tới, Viettel Media sẽ nâng cấp phần mềm này theo hướng để nông dân có thể trao đổi mua, bán các nông sản của mình sau khi nắm được sự thay đổi giá cả thị trường. ICARD sẽ mở thêm mạng lưới các doanh nghiệp tham gia sản xuất, chế biến, thu mua, xuất – nhập khẩu nông sản nhằm bổ sung dữ liệu thị trường nông sản cho hệ thống. Cách làm này đặc biệt hữu ích đối với người dân khi vào mùa vụ, nông sản được thu mua dồn dập.

Người dân cũng có thể chỉ đăng ký tin nhắn một lần duy nhất nhưng vẫn cập nhật được thông tin giá cả hàng ngày, thông qua hệ thống tin nhắn tự động cập nhật gửi về máy. ông Đường cũng cho biết thêm, hãng phần mềm nổi tiếng thế giới là Microsoft đang phối hợp với ICARD để mở rộng loại hình thông tin này cho lĩnh vực thủy sản.

Phát triển thương mại nông thôn (Bài 4): Đừng để nông dân “gánh đòn”

KTNT – Có thể khẳng định, Đề án phát triển hệ thống thương mại nông thôn giai đoạn 2010-2015 và tầm nhìn đến năm 2020 có cái nhìn khá toàn diện khi đề cập đến hầu hết các khía cạnh, từ hệ thống hạ tầng đến cách mua bán thông qua hợp đồng…

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất để thu hút người dân đến chợ, đồng thời cũng là yếu tố giúp chợ hoạt động bền vững lại chưa được chú trọng trong Đề án này, đó là chất lượng hàng hóa.

Nông thôn, thị trường của hàng kém chất lượng!

Bị “truy nã” gắt gao ở các thành phố lớn, hàng giả, hàng kém chất lượng tìm cách “dạt” về nông thôn. Mở bao thức ăn chăn nuôi, ông Đỗ Văn Doanh ở xã Kênh Giang (Thủy Nguyên – Hải Phòng) tá hỏa khi thấy toàn bộ cám đã mốc xanh. Kiểm tra kỹ, ông phát hiện nhãn mác bao bì không rõ ràng, không có địa chỉ nhà sản xuất. ông cho biết, bao cám được mua tại một cửa hàng đầu làng cách đây mấy ngày. “Người bán hàng thao thao bất tuyệt giới thiệu đây là loại cám tốt,…”, ông Doanh bức xúc nói.

Cũng gặp cảnh tương tự, chị Nguyễn Thị Lan ở xã Kiến Thiết (Tiên Lãng) bức xúc: “Đi chợ, thấy thuốc trừ sâu giá rẻ, tôi mua về phun mấy sào lúa. Nào ngờ sâu bệnh không chết mà lại phát triển mạnh hơn”.

Lợi dụng sự thiếu thông tin về sản phẩm của bà con, nhiều tư thương đã bất chấp thủ đoạn, tìm mọi cách để đưa hàng giả, hàng kém chất lượng về nông thôn. Từ những mặt hàng có giá trị thấp như bánh kẹo, nước giải khát, may mặc đến hàng có giá trị cao như đồ gia dụng, phụ tùng xe máy giả, nhái bày bán ở các chợ huyện, chợ xã. Đặc biệt, những sản phẩmphục vụ sản xuất như thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc trừ sâu… có thể tìm thấy hàng giả, hàng kém chất lượng khá nhiều, gây thiệt hại lớn cho người tiêu dùng.

Theo một cán bộ chi cục quản lý thị trường thành phố Hải Phòng: Hiện tượng gian lận thương mại hàng hóa, không ghi tem nhãn, hàng giả, hàng nhái, hàng không bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm… xảy ra phổ biến ở hầu hết địa bàn các huyện với những gian hàng quy mô nhỏ lẻ. Nguy hại hơn là trường hợp người bán còn đảo nhãn mác, biến hàng giá rẻ thành hàng cao cấp rồi ngang nhiên bày bán trên sạp hàng, khiến người mua không phân biệt được đâu là hàng chính hiệu, đâu là hàng kém chất lượng. Ông Trần Tuấn, Đội trưởng Đội Quản lý thị trường huyện Thủy Nguyên xác nhận tình trạng trên là khá phổ biến. Ngay trước Tết Nguyên đán Canh Dần, Đội đã phát hiện và xử lý một cửa hàng trên địa bàn bán bột ngọt giả với khối lượng lớn. Những mặt hàng này chủ yếu có xuất xứ từ Trung Quốc (giá rẻ hoặc hàng đã hết hạn sử dụng).

Thị trường nông thôn tiêu thụ một lượng lớn hàng hóa nhưng đang tồn tại nghịch lý: Hàng tốt nhất, của ngon vật lạ đều dành cho xuất khẩu hoặc thị trường thành thị; còn hàng lỗi, hàng xấu thì đưa về nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Tâm lý của người tiêu dùng thành thị và nông thôn có sự khác biệt lớn. Người dân nông thôn chỉ quan tâm đến sản phẩm đó có phù hợp với túi tiền của mình hay không!? Bởi vậy, giá rẻ là tiêu chí hàng đầu, sau mới là chất lượng. Chính điều này đã dẫn đến tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng mặc sức tung hoành.

Ông Hồ Tất Thắng, Phó chủ tịch Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam nhận định, người tiêu dùng nông thôn luôn là người thiệt thòi nhất. Họ không được quyền định đoạt giá cả, không được quyền bàn thảo hợp đồng và là người gánh chịu tất cả mọi rủi ro nếu gặp hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. “Thực tế người dân nông thôn hiện đang phải mua hàng giá cao chứ không phải mua hàng giá rẻ. Nông dân đang tiêu thụ phần lớn là hàng giả, hàng kém chất lượng. Nhưng vì không có thông tin nên đã bị lừa khi mua hàng, do đó họ là người phải “gánh đòn” bởi sự thiếu kiểm soát chất lượng trên thị trường”, ông Thắng nói.

Tôn trọng “thượng đế”

Trên thực tế, không phải doanh nghiệp nào cũng coi thị trường nông thôn là nơi thải hàng kém chất lượng, bằng chứng là thông qua cuộc vận động “ Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” không ít doanh nghiệp đã tìm thấy thị trường tiềm năng của mình, đó chính là những vùng nông thôn, nơi vốn bị coi là không thể kích thích được tiêu dùng.

Theo ông Nguyễn Anh Tiến, Phó giám đốc Co.op Mart Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), trong giai đoạn đầu của cuộc vận động, khi sự nhận diện của người tiêu dùng đối với hàng Việt Nam chưa cao, những phiên chợ đưa hàng tới tận tay người dân là rất cần thiết. Từ đầu tháng 10/2009 đến nay, Công ty đã tổ chức 2 phiên chợ đưa hàng Việt về nông thôn trên địa bàn 2 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông. Thông qua mỗi đợt bán hàng giúp doanh nghiệp khảo sát thị trường, xác lập những mục tiêu cụ thể ở từng địa phương, tổ chức những hoạt động xã hội nhằm tạo mối thiện cảm của người tiêu dùng với doanh nghiệp. Đợt đầu tiên tổ chức tại xã Cư EaLang (huyện Ea Kar) chỉ mang tính thăm dò thị trường nhưng đã mang lại hiệu ứng xã hội tích cực. Đây là xã thuộc diện đặc biệt khó khăn, phần lớn người dân là đồng bào dân tộc thiểu số, lâu nay việc cung ứng hàng hóa hoàn toàn phụ thuộc vào tư thương nên chất lượng không bảo đảm, giá lại cao. Sau khi khảo sát thực tế, Công ty đã có kế hoạch đưa đến cho người dân nơi đây những mặt hàng thiết yếu, đồng thời cũng là hàng Việt Nam chất lượng cao với giá cả phải chăng; tạo bầu không khí mua sắm thân thiện.

Theo kinh nghiệm của nhiều doanh nghiệp, để người dân chú ý, tiếp cận hàng hóa sản xuất trong nước thì khi tổ chức đưa hàng Việt về nông thôn phải lựa chọn những mặt hàng phù hợp, giá phải chăng, kèm các chương trình khuyến mãi, hậu mãi hấp dẫn, những quảng cáo thực tế và ngôn ngữ dễ hiểu, trong tổ chức các phiên chợ cần chú trọng đến yếu tố hội. Tại Đắk Nông, đợt bán hàng Việt qua hình thức hội chợ với các chương trình khuyến mãi, bốc thăm trúng thưởng, tư vấn tiêu dùng kéo dài trong 3 ngày đã thu hút đông đảo người tiêu dùng với doanh số bán hàng hơn 300 triệu đồng.

Nhưng điều quan trọng qua các đợt bán hàng này không nằm ở doanh số mà ở việc định hướng, giúp người tiêu dùng nông thôn nhận diện hàng Việt. Lâu nay thị trường nông thôn vẫn bị doanh nghiệp bỏ ngỏ, nông dân chịu thiệt đơn thiệt kép khi phải dùng hàng hóa giá cao, chất lượng không ổn định, thông tin sản phẩm không rõ ràng. Qua những phiên chợ đưa hàng Việt về nông thôn thấy sức mua và nhu cầu của người dân nông thôn là rất lớn, nhiều tiềm năng; người tiêu dùng nông thôn rất “khát” hàng sản xuất trong nước có chất lượng, giá cả phù hợp, nhưng chưa có nhiều sự lựa chọn vì ít hàng hóa cung ứng. Do đó, hoạt động đưa hàng Việt về nông thôn phải được tổ chức thường xuyên hơn mới mang lại hiệu quả đối với cả người tiêu dùng và doanh nghiệp.

Để thực hiện điều này, trong bối cảnh hiện tại, lợi nhuận không phải là yếu tố hàng đầu mà mục đích chính là để quảng bá thương hiệu của doanh nghiệp đến với người tiêu dùng, qua đó mở rộng đại lý phân phối, tăng doanh số bán hàng.

Về góc độ phân phối, theo ông Tiến, để chuẩn bị cho một chuyến đưa hàng về nông thôn, doanh nghiệp phải đầu tư rất nhiều từ chi phí vận chuyển, tổ chức bán hàng, quảng bá; trong những chuyến bán hàng, không chỉ nhân viên mà cả ban giám đốc, phòng kinh doanh cũng có mặt để trực tiếp lắng nghe nguyện vọng của người tiêu dùng, phát hiện và chấn chỉnh những nhược điểm trên hệ thống phân phối; từng bước xây dựng cho người tiêu dùng niềm tin vào sản phẩm nội địa, giúp thương hiệu Việt có chỗ đứng vững chắc hơn, tạo nên mối quan hệ gắn bó giữa người tiêu dùng nông thôn và hàng Việt Nam. Những nỗ lực của doanh nghiệp không chỉ gói gọn ở việc mang hàng xuống bán cho nông dân mà còn là sự nhận thức lại về tiềm năng của thị trường nông thôn.

Ở góc độ sản xuất, doanh nghiệp cần nghiên cứu phát triển sản phẩm dựa trên nhu cầu, tâm lý của người dân ở nông thôn (thu nhập thấp) để cung ứng sản phẩm phù hợp. Bên cạnh đó, do thu nhập của người dân nông thôn phần lớn phụ thuộc vào việc tiêu thụ các mặt hàng nông sản nên để bà con có tiền mua sắm những sản phẩm có chất lượng, các doanh nghiệp cũng cần quan tâm hơn tới việc tiêu thụ nông sản giúp nông dân. Ngoài ra, các đơn vị cung ứng cũng nên lưu ý thói quen mua hàng trả chậm của nông dân để điều chỉnh phương thức thanh toán cho phù hợp.

Phát triển thương mại nông thôn (Bài 5): Cách làm của nước bạn

KTNT – Ở bất kỳ quốc gia nào, khoảng cách giàu – nghèo giữa thành thị và nông thôn cũng khiến nhà quản lý đau đầu bởi nó có thể gây cản trở rất lớn trên bước đường phát triển. Chính vì vậy, không ít quốc gia đã lựa chọn đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng, trong đó có mạng lưới thương mại nông thôn, làm bàn đạp cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Phát triển từ cửa hàng nhỏ
Tại thôn Lão Long Đầu, thị trấn Minh Dương, thành phố Trang Hà (Liêu Ninh – Trung Quốc), lão nông Từ Hồng Thành đã gắn bó với một cửa hàng kinh doanh nhỏ hơn 20 năm. Trước kia, ông thường phải chạy đôn chạy đáo khắp nơi để nhập hàng. Song hai năm gần đây, cách nhập hàng truyền thống của ông đã được thay đổi. Hiện ông có thể ngồi nhà chờ xe tải của siêu thị Kim Mã, thành phố Đại Liên chở hàng đến.

Năm 2005, Bộ Thương mại Trung Quốc chính thức khởi động Công trình thị trường vạn thôn nghìn xã với mục tiêu phát triển khoảng 250.000 cửa hàng nông thôn tại khu thí điểm trong ba năm, hình thành mạng lưới tiêu thụ và kinh doanh nông thôn, lấy cửa hàng thành phố làm đầu mối, cửa hàng thị trấn là cốt cán, cửa hàng nông thôn làm cơ sở, từng bước thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn.

Ông Tôn Cường đã mở một cửa hàng trong hệ thống siêu thị Kim Mã tại thôn Hồng Kỳ, thị trấn Nhị Thập Lý Bảo, quận Kim Châu, thành phố Đại Liên. ông cho biết, thu nhập của nông dân thôn Hồng Kỳ đạt mức trung bình ở quận Kim Châu, song quan niệm tiêu thụ đã thay đổi rất nhiều. Thôn cách quốc lộ gần nhất cũng phải 7km, nếu đi xe buýt lên thị trấn mua sắm vừa mất thời gian lại tốn tiền tàu xe. Hiện nay, cửa hàng của ông có thể cung cấp hầu hết các mặt hàng với tiêu chí: hàng thật, giá đúng, chủng loại phong phú nên được bà con rất hoan nghênh. Phó giám đốc Sở Thương mại tỉnh Liêu Ninh Kiều Quân nói, sau khi cửa hàng nhỏ nông thôn truyền thống được cải tạo thành hệ thống siêu thị, không những đã giảm rõ rệt giá thành mua buôn, chi phí kinh doanh, mà còn tăng doanh thu gấp 3-9 lần. Thị trường nông thôn toàn tỉnh trở nên phồn vinh mà nhiều năm chưa từng có, sản phẩm, hàng hóa cũng đa dạng . Theo thống kê của Sở Thương mại tỉnh Liêu Ninh, tính đến nay, cửa hàng nông thôn đã phủ 90% số xã và thị trấn, 60% thôn hành chính toàn tỉnh, thu hút 42.000 nông dân làm việc trong ngành lưu thông phân phối thương mại, mạng lưới lưu thông thị trường nông thôn đang được hình thành.

Ngồi nhà cũng biết giá đậu nành thế giới

Nếu khoảng cách giàu – nghèo không ngừng gia tăng khiến Chính phủ Trung Quốc đau đầu thì cách biệt đó đang được thu hẹp tại Ấn Độ.

Thu nhập của người dân thành thị Ấn Độ hiện nay cao hơn 56% so với nông thôn. Tỷ lệ này hồi năm 1990 là 82%. Nông dân chiếm một phần đáng kể trong số 300 triệu hộ gia đình trung lưu ở Ấn Độ. Chính sự trỗi dậy của họ đã khiến các công ty sản xuất điện thoại di động, xe hơi và hàng tiêu dùng thay đổi chiến lược kinh doanh, chú trọng mở rộng các chương trình tiếp thị ra khu vực nông thôn.

Việc chính phủ triển khai các dự án xây dựng hạ tầng ở nông thôn đã giải quyết nhiều việc làm cho người dân. Thêm vào đó, chính sách trợ cấp và miễn giảm thuế của chính phủ đã giúp cuộc sống của nông dân thay đổi đáng kể. Hình ảnh những nông dân ngồi click chuột bán nông sản không hề xa lạ, bởi hệ thống hạ tầng cũng như mạng lưới thông tin của họ phát triển khá đồng bộ. Những khu chợ online được thiết lập, cập nhật tình hình thị trường thường xuyên để nông dân nắm vững, dựa vào đó đưa ra quyết định cuối cùng cho sản phẩm của mình.

Tại Tihi, một làng quê ấn Độ với 2.500 dân, anh Ravi Sham Choudhry tay còn lấm bùn đất, đang thực hiện các thao tác chậm rãi và vụng về trên máy vi tính. Trên màn hình hiện ra các chỉ số giá cả của mặt hàng đậu nành từ Văn phòng thương mại thành phố Chicago ở tận Hoa Kỳ xa xôi. Hôm nay, những vạch màu đỏ hiện ra, giá đậu nành tại Chicago đang sụt giảm, điều đó dự báo giá đậu nành tại Ấn Độ sẽ giảm theo.

Hệ thống máy vi tính có kết nối với mạng internet để cung cấp thông tin toàn cầu tại những vùng quê Ấn Độ được gọi là e-Choupal (choupal theo tiếng Hindi tạm dịch là làng xóm). Những nông dân trong làng có thể tham khảo giá cả mặt hàng cần bán tại một số thị trường chủ chốt trên thế giới, cũng như giá cả tại các điểm thu mua địa phương.

Bên cạnh thông tin về giá nông sản, qua e-Choupal, người dân Ấn Độ còn có thể biết thêm các thông tin về thời tiết, kỹ thuật mới trong khâu làm đất, dự báo những thay đổi về xu hướng tiêu thụ của thị trường. Ông Mulchin Sath, một nông dân ở Tihi nói: “Không thể tưởng tượng nổi, làng tôi bây giờ được nối với toàn thế giới”.

Chợ vẫn là nơi đóng góp chính cho thương mại nội địa

Phát triển thương mại nông thôn là đề án lớn, dài hơi, cần sự tham gia của cộng đồng. Để hiểu rõ hơn về mục tiêu và cách thực hiện đề án, chúng tôi có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Xuân Chiến, Phó vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương). ông Chiến cho biết:

Hơn lúc nào hết, bây giờ là lúc chúng ta cần nhìn nhận lại tầm quan trọng của thị trường trong nước nói chung, thị trường nông thôn nói riêng. Việt Nam là nước nông nghiệp, thị trường nông thôn gắn với sản xuất nông nghiệp, làm sao phải tiêu thụ được hàng nông sản do nông dân, thợ thủ công làm ra. Không chỉ tiêu thụ sản phẩm mà còn phải cung ứng được những vật tư cho sản xuất. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, xuất khẩu các sản phẩm nông sản như gạo, càphê, cá tra, ba sa, trái cây đang gặp nhiều khó khăn thì việc mở rộng thị trường nội địa được coi là biện pháp quan trọng.

Hiện nhu cầu tiêu thụ hàng hóa của nông dân rất lớn nhưng do khả năng tài chính, khả năng thanh toán không đồng đều, nhất là miền núi, vùng sâu, vùng xa còn khó khăn nên các mặt hàng tiêu dùng chưa thực sự đến được với người dân. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nhận thấy, tiềm năng của thị trường nông thôn lớn, nhu cầu cao, quan trọng là đưa hàng về nông thôn làm sao cho phù hợp.

Nhưng trong thời gian qua, dư luận phản ánh về một số chợ được hỗ trợ xây xong lại bỏ không, đề án đã tính tới vấn đề này chưa, thưa ông?

Việc hoạt động không hiệu quả của một số chợ là do rất nhiều nguyên nhân như: kinh phí xây dựng cao dẫn đến giá thuê gian hàng, ki-ốt cao; vị trí đặt chợ không hợp lý với tập quán mua bán tiêu dùng của người dân; thiết kế không hợp lý; khâu quản lý yếu. Trên thực tế, hiệu quả hoạt động của chợ vẫn rất lớn, tổng mức lưu thông hàng hoá chiếm trên 40%. Trong khi nước ta mới có hơn 300 siêu thị và trung tâm thương mại, lượng tiêu thụ hàng hoá chỉ chiếm 10%. Hiện nay, trên cả nước có khoảng 8.300 chợ, nhưng số chợ hoạt động không hiệu quả chỉ chiếm 2,3%, chợ vẫn là nơi đóng góp chính cho thương mại nội địa.

Theo ông, mô hình thương mại nông thôn năm 2020 sẽ thế nào?

Đầu tiên phải nói tới hạ tầng thương mại nông thôn, thương nhân phát triển được cũng phải trên cơ sở hạ tầng tốt. Nếu phát triển theo mục tiêu từ năm 2010 đến 2020 thì thương mại nông thôn sẽ khác về chất so với giai đoạn hiện nay rất nhiều. Tuy nhiên, đến năm 2020, chủ yếu mua bán hàng hóa vẫn là thông qua chợ. Vì thế đề án hướng đến năm 2020 với trung bình khoảng hơn 200 chợ được xây mới thì số chợ tạm sẽ được thay mới khang trang, cơ sở vật chất khá hơn, văn minh hơn.

Tuy vậy, đề án cũng khuyến khích tiêu thụ nông sản theo hình thức ký hợp đồng trước, người sản xuất yên tâm đầu tư sản xuất, đảm bảo chất lượng, nhà máy yên tâm ký hợp đồng với nước ngoài, yên tâm sản xuất thông qua hợp tác xã tạo sự liên kết mang tính bền vững giữa DN, HTX và nông dân. Đặc biệt, đề án đã tạo cơ chế chính sách hỗ trợ nông dân, hoạt động thương mại nông thôn sẽ tốt hơn cho cả sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng.

Xin cảm ơn ông!

Xuân Thanh (thực hiện)

About Hải Hồ

Lượm lặt những bài viết trên internet, nhờ Wordpress giữ giúp rồi 1 ngày đẹp trời nào đó đem ra xài.....
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s