Lo chuyện “đầu ra” cho ngư dân

(01/07/2011)

Bến cá Định An, Trà Cú, Trà Vinh

VH- Ngoài việc hỗ trợ “đầu vào” như phương tiện tàu, thuyền đánh bắt cá xa bờ; thiết bị liên lạc trên tàu; chi phí xăng dầu… (Xem loạt tin, bài trên Văn Hóa) thì việc lo chuyện “đầu ra”, công tác hậu cần nghề cá để bà con yên tâm bám biển cũng không kém phần quan trọng: Đó là việc xây dựng cảng cá, khu neo đậu, đặc biệt có chính sách thu mua thủy sản cho ngư dân…

Thiếu hệ thống cảng cá đúng tầm

Công tác hậu cần nghề cá trước hết phải tính đến hệ thống cảng cá, bến cá cho ngư dân. Nó được xem như “bệ phóng” để ngư dân vươn ra khơi xa, “bãi đáp” an toàn và đủ sức chứa những con tàu chở đầy tôm, cá đi về.

Nhìn thấy vấn đề này, nhiều địa phương trong thời gian vừa qua đã đầu tư nhiều cảng cá khá quy mô như dự án cảng cá và khu neo đậu tránh, trú bão cho tàu thuyền nghề cá Lạch Bạng, Tĩnh Gia, Thanh Hoá vừa được triển khai xây dựng với tổng giá trị đầu tư 155 tỷ đồng bằng nguồn vốn ngân sách Trung ương do Bộ NN&PTNT quản lý; hoặc TP.HCM mới đây có chủ trương xây dựng cảng cá khoảng 70 ha (có thể mở rộng lên hàng trăm hécta) với trung tâm thương mại dịch vụ hậu cần nghề cá, hệ thống cảng- chợ cá, trung tâm đấu giá thủy hải sản, khu xử lý chất thải… tại ấp 3, xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè; tỉnh Kiên Giang cũng vừa khởi công xây dựng gói thầu bến cập tàu và các hạng mục khác của cảng cá Xẻo Nhàu tại xã Tân Thạnh, huyện An Minh có khả năng tiếp nhận bình quân 40 lượt tàu trong một ngày đêm với tổng số vốn hơn 25 tỉ đồng…

Tuy nhiên, theo Bộ NN&PTNT, những cảng cá có quy mô như thế chỉ đếm trên đầu ngón tay. Cảng cá của ta hiện nay, nói đúng hơn thì nó giống như một cái bến, gồm dăm bảy hộ dân ở một cái xóm nhỏ thôi cũng nghĩ ra một bến đỗ, khiến cảng tràng giang đại hải. Trong lúc đầu tư của Nhà nước còn thấp và kinh tế còn khó khăn, thì việc có quá nhiều cảng cũng làm cho đầu tư phân tán và kém hiệu quả.

Theo TS Chu Hồi, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo (Bộ Tài nguyên và Môi trường), nếu muốn quy hoạch lại nghề cá thì vấn đề quy hoạch lại cảng cá là việc quan trọng hàng đầu. Bởi muốn có một đội tàu lớn thì không thể không có cảng cá tương xứng. Hiện cả nước hiện có tới hơn 6.000 cảng, nhưng cảng cho ra cảng thì lại thiếu. Nói là cảng chứ thực ra chỉ xây một bức tường xi măng cho mấy chiếc tàu cá lèo tèo đi vào.

 Trong khi đó chúng ta lại thiếu cảng cá đúng nghĩa, đó là trung tâm cung cấp hậu cần nghề cá và tiêu thụ sản phẩm, từ nguyên nhiên liệu đến thu mua nguyên liệu kèm sơ chế, chế biến ở các đảo ngoài khơi…

Được biết, mới đây Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định phê duyệt Quy hoạch hệ thống cảng cá, bến cá đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 tại 28 tỉnh, thành phố ven biển.

Theo quy hoạch được phê duyệt, đến năm 2020 sẽ có 211 cảng cá, bến cá với tổng lượng thủy sản qua cảng, bến là 2.360.000 tấn/năm. Trong đó, tuyến bờ 178 cảng cá và bến cá với tổng lượng thủy sản qua cảng và bến là 2.145.000 tấn/ năm; tuyến đảo có 33 cảng cá và bến cá với tổng lượng thủy sản là 215.000 tấn/năm.

Trong giai đoạn 2009-2012, quy hoạch ưu tiên đầu tư xây dựng các cảng cá loại I, các dự án đang đầu tư dở dang, có tính cấp thiết và các cảng cá có thể kết hợp với khu neo đậu tránh trú bão đã hoặc đang xây dựng.

Giai đoạn sau 2012, sẽ căn cứ vào tình hình thực tế và nhu cầu phát triển, một số cảng cá có vị trí phù hợp sẽ được bổ sung và nâng cấp thành cảng cá quốc tế.

Tổng nhu cầu vốn đầu tư cho các dự án cảng cá, bến cá đến năm 2020 là 8.000 tỷ đồng, được huy động từ nhiều nguồn như ngân sách Trung ương hỗ trợ, ngân sách địa phương, vốn của các thành phần kinh tế trong nước, vốn đầu tư, tài trợ từ nước ngoài.

Đây thực sự là tín hiệu vui cho bà con ngư dân.

Yếu khâu thu mua, bảo quản, chế biến thủy sản

Khâu tiêu thụ, thu mua hải sản vẫn đang là nỗi lo của ngư dân. TS Chu Hồi cho rằng, trong công tác hậu cần nghề cá hiện nay thì yếu nhất là khâu bảo quản sau thu hoạch. Thủy sản là nguyên liệu dễ ôi thiu, nhưng công nghệ sau thu hoạch trên biển của ta còn rất thiếu và yếu.

Các nước lớn ra khơi đều đã có tàu chế biến, thậm chí xuất khẩu ngay tại ngư trường ngoài khơi. Còn ta thì ướp đá đến nay vẫn là biện pháp truyền thống duy nhất. Một con tàu ra khơi đã phải chở theo bao nhiêu tấn đá, lúc về bờ có cá, tàu lại càng nặng hơn. Thành thử con tàu lúc nào cũng oằn mình giống như con lừa. Điều này cũng làm tiêu tốn nhiên liệu, đẩy chi phí sản xuất tăng lên khiến hiệu quả và lãi ròng cuối cùng của ngư dân chẳng còn là bao nhiêu.

Trên thực tế thì bài toán dịch vụ hậu cần biển cũng đã được giải quyết ở một vài tỉnh, thành, trong đó đáng chú ýlà huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận. Đây được xem như là một mô hình tư nhân làm hậu cần hỗ trợ ngư dân khi đánh bắt dài ngày.

Dịch vụ này ngoài việc thu mua hải sản ngay trên biển, còn cung cấp nhiên liệu cho ghe tàu tiếp tục hành trình, tiết kiệm được chi phí chuyên chở và làm tăng nguồn lợi từ những chuyến đánh bắt xa bờ.

Tại Hội nghị phát triển các mô hình Tổ, đội sản xuất trên biển do Bộ NN&PTNT phối hợp tổ chức tại thành phố Phan Thiết, Bình Thuận vừa qua (Xem Phát triển mô hình Tổ, đội sản xuất trên biển, Văn Hóa số 2019, ra ngày 27.6.2011), ông Nguyễn Văn An (Ngũ Phụng, Phú Quý) cho biết: “Chúng tôi đóng tàu cấp đông cho thu mua và đóng gói hải sản tại chỗ.

Đồng thời cung cấp lại đủ thứ ngư dân cần đến, từ nhiên liệu xăng dầu, phụ tùng, đá để ướp muối hải sản đến lương thực, rau me, hành ớt, thuốc men cho ngư dân an tâm đánh bắt cá xa bờ. Thời gian qua, chúng tôi thấy rất có lợi nhiều mặt như việc giao thông thuận lợi, thông tin xuyên suốt giữa biển khơi với đất liền. Hàng vừa đánh bắt được là thu mua ngay, đóng gói an toàn”.

Tuy nhiên, chính lãnh đạo Bộ NN&PTNT cũng thừa nhận, công tác hậu cần trên biển còn yếu, nhiều nơi ngư dân tự lo. Kể cả mô hình trên đây ở đảo Phú Quýthì cũng chỉ là mô hình của tư thương mang tính chất tự phát, nhỏ lẻ, trong khi vai trò của doanh nghiệp nhà nước ở trong khâu này còn mờ nhạt.

Việc xây dựng các nhà máy chế biến thủy-hải sản ở các tỉnh, thành phố ven biển miền Trung cũng có nhiều bất cập. Nhà máy chế biến có công suất lớn, nhưng nguồn nguyên liệu không đủ, công nghệ chế biến lạc hậu dẫn đến chính sách thu mua thiếu ổn định và giá cả không cạnh tranh. Ðiều đó cũng giải thích nguyên nhân ngư dân Quảng Ngãi, Thừa Thiên-Huế, thậm chí từ Hà Tĩnh, Nghệ An không mặn mà bán sản phẩm khai thác được cho các nhà máy chế biến ở Bình Ðịnh, Khánh Hòa.

Do đó, theo Bộ NN&PTNT, cùng với việc quy hoạch cảng cá, bến cá thì việc áp dụng công nghệ bảo quản hiện đại, đảm bảo an toàn vệ sinh; hỗ trợ doanh nghiệp trong việc thu mua, chế biến thủy sản; đẩy mạnh công tác xuất khẩu sẽ được làm một cách bài bản, căn cơ hơn. Và đây cũng là cách hỗ trợ thiết thực để bà con ngư dân yên tâm bám biển, giữ ngư trường.

 Bên cạnh việc xây dựng lực lượng kiểm ngư mạnh để hỗ trợ ngư dân trước hết là kỹ thuật khai thác thủy sản, khắc phục rủi ro khi gặp sự cố trên biển và đặc biệt là đấu tranh với những hành vi xâm phạm của tàu nước ngoài phù hợp với luật pháp trong nước và luật pháp quốc tế thì công tác hậu cần nghề cá như xây dựng cảng cá, khu neo đậu, thu mua thủy sản cho ngư dân… cũng rất quan trọng.

 (Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát)

Quang Đại

nguồn: http://www.baovanhoa.vn/chinhtrixahoi/37066.vho

About Hải Hồ

Lượm lặt những bài viết trên internet, nhờ Wordpress giữ giúp rồi 1 ngày đẹp trời nào đó đem ra xài.....
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s